Thúc đẩy Chu kỳ Tín dụng Tiếp theo: Giải pháp Nguồn vốn cho Tăng trưởng Tín dụng Bền vững tại Việt Nam

18:58 09/02/2026

Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn tới, bài toán đặt ra không chỉ nằm ở quy mô tín dụng hay tổng lượng vốn được bơm vào nền kinh tế, mà ở cách thức dòng vốn được huy động, phân bổ và sử dụng để tạo ra tăng trưởng thực chất.

Tại sự kiện Vietnam Access Days 2026 do Chứng khoán Vietcap tổ chức ngày 04/02/2026 tại TP.HCM, ông Nguyễn Quang Thuân – Chủ tịch FiinGroup và FiinRatings đã chia sẻ về chủ đề “Thúc đẩy Chu kỳ Tín dụng Tiếp theo: Những Giải pháp Nguồn vốn cho Tăng trưởng Tín dụng Bền vững tại Việt Nam”. Một số điểm nhấn chinh từ bài chia sẻ:

  • Tăng trưởng GDP năm 2025 chủ yếu dẫn dắt với hoạt động đầu tư (đầu tư công và FDI) và xuất khẩu của khu vực FDI trong khi đầu tư của khu vực tư nhân và tiêu dùng trong nước vẫn còn yếu.” Để đạt được mục tiêu tăng trưởng 10% từ năm 2026, chúng tôi kỳ vọng vào (i) cải thiện dòng vốn đầu tư của doanh nghiệp trong nước; và (ii)  phục hồi cầu tiêu dùng trong nước”.
  • Bối cảnh trên sẽ góp phần định hình một chu kỳ tín tín dụng mới của Việt Nam giai đoạn 2026-2030. Trọng tâm của Chính phủ hiện nay sẽ là thúc đẩy đầu tư công và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư của khu vực tư nhân phát triển hơn nữa. Đây sẽ là tiền đề quan trọng cho cả cơ hội và rủi ro cho một chu kỳ tín dụng mới của Việt Nam trong giai đoạn 5 năm tới.
  • Theo FiinGroup ước tính, giai đoạn 2026 - 2030, mỗi năm Việt Nam cần huy động từ 172 tỷ USD đến 263 tỷ USD vốn đầu tư trung và dài hạn. Đối chiếu với các nguồn vốn hiện hữu, khoảng trống vốn trung và dài hạn của nền kinh tế có thể dao động trong khoảng 20 - 30 tỷ USD mỗi năm. Nguồn vốn trung và dài hạn hiện hữu được xem xét từ: nguồn vốn đầu tư công, cấp vốn trung – dài hạn từ ngân hàng, vốn FDI và M&A, vốn huy động cổ phần trên TTCK, vốn huy động qua thị trường trái phiếu doanh nghiệp và vốn vay nợ quốc tế.
  • Đầu tư công: Dự kiến giải ngân ~1,12 triệu tỷ VNĐ (~ 41,2 tỷ USD) năm 2026. Dư địa cho chính sách tài khóa còn rộng rãi nhờ việc kiếm soát nợ công hiệu quả trong nhiều năm vừa qua. Tuy nhiên, đây chỉ nên xem là “vốn mồi”, kích hoạt các dự án PPP & dòng vốn đầu tư tư nhân lớn trong dài hạn.
  • Tín dụng ngân hàng: Tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống ~18,4 triệu tỷ VNĐ (~ 702 tỷ USD) và Tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện ở mức cao (khoảng 146%) vào cuối 2025. Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của toàn ngân hàng khoảng 28.32% tại cuối tháng 11/2024 (gần chạm trần quy định 30% của NHNN), CAR nhóm Big 4 < 11% tại thời điểm giữa 2025 và áp lực triển khai Basel III (lộ trình đến 2030). Các chỉ số này cho thấy hệ thống các NHTM Việt Nam sẽ không đủ sức để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn cho đầu tư nói chung và trong đó có các dự án hạ tầng lớn của Việt Nam.
  • Trái phiếu doanh nghiệp: Giá trị phát hành mới 2025 đạt ~644 nghìn tỷ VNĐ (~23,9 tỷ USD) trong đó trái phiếu doanh nghiệp phi ngân hàng có quy mô còn quá nhỏ: chỉ ~207 nghìn tỷ VNĐ (~7,9 tỷ USD), chiếm tỷ trọng 32%. Kênh huy động TPDN sẽ phát triển mạnh năm 2026 trở đi nhờ những cải thiện chính sách liên quan hiện nay nhất là về mục đích sử dụng vốn thông thoáng hơn, cải thiện minh bạch thông tin, xếp hạng tín nhiệm bắt buộc, v.v. và do môi trường lãi suất vay ngân hàng đang có xu hướng tăng cao.  
  • Vốn vay quốc tế: Nợ nước ngoài của doanh nghiệp: ~2,2 triệu tỷ VNĐ (~85,7 tỷ USD) vào cuối 2025. Trong bối cảnh nợ công của Việt Nam còn dư địa tăng thêm nhưng mấu chốt là hiệu quả sử dụng vốn. Triển vọng huy động kênh vốn này sẽ cải thiện khi lãi suất toàn cầu giảm và phụ thuộc lớn vào: Nâng mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia (hiện ở mức BB+) và Cơ chế chính sách nhằm cải thiện “Bankability” của dự án nhất là các dự án hạ tầng.
  • Huy động vốn cổ phần trên TTCK: Huy động vốn (bằng tiền mặt) qua kênh cổ phiếu năm 2025: 150,5 nghìn tỷ VNĐ (~5,7 tỷ USD) – mức kỷ lục trong gần 30 năm lịch sử của TTCKVN. Động lực 2026 và các năm tiếp theo: Các thương vụ IPO tiềm năng, doanh nghiệp FDI niêm yết, tiếp tục nâng hạng theo MSCI và hiện thực hóa kết quả từ nâng hạng thị trường chứng khoán nhằm thu hút vốn đầu tư gián tiếp.

Ông Thuân nhấn mạnh “Khả năng huy động và phân bổ hiệu quả nguồn vốn đầu tư dài hạn sẽ là yếu tố then chốt quyết định việc hiện thực hóa các mục tiêu tăng trưởng cao này, bên cạnh các động lực quan trọng khác như nâng cao năng suất lao động, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo theo định hướng hiện nay của Chính phủ” 

Với năng lực dữ liệu của FiinGroup và chuyên môn xếp hạng tín nhiệm của FiinRatings, hệ sinh thái phân tích được xây dựng nhằm cung cấp góc nhìn độc lập, chuẩn hóa và có chiều sâu về thị trường vốn. Cách tiếp cận này góp phần hỗ trợ thị trường nâng cao kỷ luật định giá, cải thiện chất lượng phân bổ vốn và thúc đẩy sự phát triển theo chiều sâu của thị trường vốn Việt Nam. 

👉 Tải ngay bản trình bày đầy đủ: TẠI ĐÂY

👉 Khám phá các giải pháp công nghệ dữ liệu và phân tích của FiinGroup: https://fiingroup.vn

CÔNG TY CỔ PHẦN FIINRATINGS

CÔNG TY CỔ PHẦN FIINRATINGS

Bản quyền© 2026 FiinRatings. Đã đăng ký bản quyền.
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên mạng số 33/GP-TTĐT do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội cấp ngày 12/01/2023.
Chịu trách nhiệm quản lý nội dung: Ông Nguyễn Quang Thuân

Đang tải xác thực...